ĐẠO PHẬT KHẤT SĨ
TIỂU SỬ TỔ SƯ MINH ĐĂNG QUANG
03/09/2009 12:47 (GMT+7)
Kích cỡ chữ:  Giảm Tăng

 

                                                                                                                             

 Bài đọc tưởng niệm nhân ngày 

 Tổ sư vắng bóng mùng 1 tháng 2 âm lịch hằng năm

 

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Kính lạy chư Phật, Pháp, Tăng mười phương ba đời

Kính lạy chư vị lịch đại Tổ sư tiền hiền

Kính lạy Đức Tôn Sư Minh Đăng Quang

 

Kính thưa chư vị,

Người xưa từng dạy: “Mộc bổn thủy nguyên”, nghĩa là “Cây có cội, nước có nguồn”. Ngày nay được sinh thân làm người trong chúng ta ai cũng có ông bà cha mẹ, quyến thuộc. Người học đạo con Phật thì có Tông môn, Thầy Tổ.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, vị giáo chủ khai lập đạo Phật trên trái đất chúng ta đang sống đản sinh vào quốc độ Ấn, thị hiện du hành hóa độ chúng sanh tám mươi năm và nhập diệt cách nay hơn hai mươi lăm thế kỷ.

Đạo Phật du nhập vào Việt Nam trên dưới hai ngàn năm và đã thấm sâu trong lòng dân tộc Việt.

Đến gần giữa thế kỷ hai mươi (năm 1944) tại miền Nam Việt Nam, Đức Tôn sư Minh Đăng Quang ra đời phát bồ đề tâm, dựng lập chí nguyện “Nối truyền Thích Ca chánh pháp” khai mở hệ phái Phật giáo biệt truyền, thành lập “Đạo Phật Khất sĩ Việt Nam”.

Ngày mùng 1 tháng 2 âm lịch 1954, với 32 tuổi đời – vừa tròn 10 năm hoằng hóa… Đức Tôn Sư vắng bóng đến ngày nay (1/2 ÂL - 2004).

Từ đó, hằng năm ngày mùng 1 tháng 2 âm lịch, hàng môn đồ đệ tử Tăng ni xuất gia và thiện nam tín nữ Phật tử tại gia đồng nhất tâm thành kính thắp nén tâm hương tưởng niệm cuộc đời giáo hóa và ân đức khai sơn sáng lập của Tổ sư.

 

THÂN THẾ THỜI NIÊN THIẾU

Đức Tôn sư Minh Đăng Quang , thế danh người Nguyễn Thành Đạt, tự Lý Hườn, sinh ra đời lúc 10 giờ tối ngày Tân Tỵ 26 tháng 9 năm Quý Hợi 1923 tại làng Phú Hậu, tổng Bình Phú, quận Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long miền Nam – Việt Nam (thuộc tỉnh Cửu Long ngày nay).

Thân phụ ngài là cụ ông Nguyễn Tồn Hiếu, thân mẫu là cụ bà Phạm Thị Nhàn. Từ bao đời gia đình song thân vốn có nề nếp ăn ở theo đạo thánh hiền, tu nhân tích đức, được người đương thời khen ngợi là gia đình hiền lương nhân nghĩa. Trong gia đình ông bà cụ có tất cả 5 người con. Ngài là con út. Trước Ngài có 4 anh chị, cụ bà đều thọ thai và sinh nở bình thường, nhưng đến Ngài thì cụ bà mang thai đến 12 tháng mới khai hoa. Mười tháng sau, ngày 25 tháng 7 năm Giáp Tý 1924, cụ bà bệnh nặng và qua đời, hưởng dương 32 tuổi (sau này Ngài vắng bóng cũng năm 32 tuổi). Từ đó về sau Ngài được thân phụ và bà kế mẫu Hà Thị Song nuôi dưỡng đến ngày trưởng thành. Cụ ông mất ngày mùng 5 tháng giêng năm Mậu Thân 1968, thọ 75 tuổi.

Thuở nhỏ tuy sinh trưởng và lớn lên ở một làng vùng quê nhưng Ngài có trí thông minh khác hơn những trẻ cùng thời. Phong cách đi, đứng, ăn, mặc, nói, làm… đều thể hiện đức tính trang nghiêm điềm đạm hơn chúng bạn. Chính vì vậy mà ngay từ lúc tuổi còn niên thiếu Ngài được thân phụ rất yêu quý và mọi người chung quanh đều một lòng thương mến. Đến tuổi cắp sách đến trường, Ngài luôn chăm chỉ học hành, bài vở thầy dạy đến đâu Ngài thông suốt đến đó và mỗi năm tiến phát.

Ngoài giờ học ở trường, Ngài giúp đỡ việc nhà, hầu hạ cha mẹ. Và hơn nữa, Ngài rất siêng năng nghiên cứu tìm hiểu sách vở ghi chép sử liệu các tôn giáo, nhất là tam giáo: thích – đạo – nho… Ngài tìm tòi học hỏi rất tường tận. Nhờ vậy mỗi khi chuyện vãn với những người thiện duyên quen lạ gặp gỡ, Ngài đều luận giải mọi vấn đề một cách tinh tường và được mọi người cảm phục.

Vốn được hấp thụ nề nếp đạo đức nho phong nên Ngài thường tới lui các nhà đạo đức trưởng thượng đương thời để tham vấn đạo lý. Trong thời gian này, Ngài có tạo phía sau nhà một cái thất nhỏ để hằng ngày tiện bề tu tập tham thiền. Ngài thường trầm tư mặc tưởng, có khi cả đôi ba giờ đồng hồ. Có những buổi chiều Ngài thường hướng mắt về chân trời bao la với vẻ mặt đăm chiêu như đang suy nghĩ điều gì mà chưa giải quyết được.

 

CON ĐƯỜNG XUẤT GIA, SỰ THỬ THÁCH VÀ ĐẠO QUẢ

 

Với tinh thần hướng thượng sẵn có, nhiều lần Ngài xin phép với thân phụ được xuất gia tầm chân lý. Thân phụ vì quá thương con nên không đành để Ngài ra đi một mình một bóng đến xứ lạ quê người hoặc nơi núi rừng cô tịch, hang động hiểm nguy khi tuổi đời còn niên thiếu, nên ông cụ nhất định ngăn cản. Thấy việc trình xin không kết quả vì tình phụ tử quá thiêng liêng, nhưng cũng không vì sự luyến ái đó mà Ngài bỏ dở chí đăng sơn. Qua nhiều đêm suy nghĩ Ngài tự nhủ không thể tầm thường như bao người trong trần tục để kiếp phù sinh cứ mãi lăn xoay trong vòng sinh già bệnh chết… Cuối cùng, Ngài quyết tâm dõng mãnh cất bước ra đi, cắt đứt tình thân:

Thôi thì thôi, thế thôi thì,

Vẹn nguyền, xin chịu lỗi nghì với cha,

Thiếu niên ngày nọ lìa nhà,

Vượt biên giới Việt-Miên xa dặm ngàn.

Lên non tìm động hoa vàng,

Tầm sư học đạo  chốn Nam Vang thành.

Ngài rời Việt Nam đến Campuchia năm đó được 15 tuổi. Ngay từ buổi đầu được một vị Thầy Việt lai Miên nổi tiếng đạo pháp cao siêu, Ngài liền cầu xin thọ giáo làm cư sĩ học đạo. Trải qua những cuộc trắc nghiệm cam go, rốt cuộc vị Thầy hoan hỷ tỏ lời khen ngợi và cho ờ lại học đạo. Được bốn năm ở Campuchia, Ngài vừa làm xong bổn phận, vừa nghiên cứu Kinh Tạng và đường lối Y Bát chơn truyền của Phật Tăng xưa. Sau đó, Ngài xin phép với Thầy được trở về Việt Nam.

Trên đường về lại quê hương, Ngài gặp phải một thử thách lớn trong đời. Một thử thách mà khắp thế nhân, người người đều mang nặng – đó là hiếu nghĩa song đường và nghiệp duyên trần thế:

Cha già mái tóc điểm sương,

Mẹ xưa dưới mộ chút hương linh này.

Thôi thì theo cái xưa nay,

Lập gia thất để yên mây chín từng.

Nghĩa ân vành vạch một vừng,

Có nàng thục nữ khuê trung dịu dàng.

Cảm ơn cứu tử ngàn vàng,

Nguyện cùng xướng họa cung đàn phu thê.

Phương danh nàng là Kim Huê,

Quê vùng Chợ Lớn vẹn bề công dung.

Và rồi duyên định cũng an bài. Hơn một năm sau Kim Huê giã từ trần mộng. Điều này quả thật đúng với ý nghĩa bí mầu trong cõi hạ vô biên:

Gẫm trong trời đất vô cùng,

Nợ duyên âu cũng nghiệp chung muôn loài.

Hay là thánh ý Như Lai,

Muốn cho ôn lại trọn  bài đau thương?

Đau thương là tính vô thường!

Vô thường là tính đoạn trường xưa nay.

Bài học đau thương, bài học vô thường, bài học đoạn trường , quả là những bài học vi diệu đã kiến tạo cho cõi phiền não thành cảnh giới an vui, đã giúp duyên cho lòng người làm tròn xong hạnh nguyện hôm nào còn dang dở.

Lần này Ngài dốc chí ôm bổn nguyện ra đi, đi một phương trời vô định, đi không bào giờ trở lại. Nhiều lần Ngài vào hang núi ẩn tu, đồng thời nghiên cứu về đường lối Nam Bắc Tông Phật giáo. Ngài dấn thân vào vùng Thất Sơn, nơi có nhiều núi non huyền bí, hang động sâu thẳm, có những bậc ẩn tu ít người thấy gặp, Ngài được phước duyện gặp vị sư già tướng mạo cốt cách phi phàm giới đức trang nghiêm, ngài liền xin thọ giới đắp y và ở ẩn tu cùng thầy một thời gian. Do Ngài đến đây với tất cả lòng thành, với quyết chí tu hành giải thoát, tìm ra chánh pháp của Như Lai, hiến dâng cuộc đời cho Phật pháp. Giữa chốn núi cao hiểm trở, cây lá phủ giăng bốn bề tịch lặng, chỉ nghe tiếng chim kêu vượn hú, làm bạn với cỏ cây. Đêm thì tham thiền tĩnh tọa, buổi sáng thì mang bình bát đi khất thực hóa duyên trong thôn xóm theo hạnh Phật tăng xưa. Giờ ngọ thọ trai xong, Ngài trở về tìm chỗ tịch lặng để đi kinh hành và giữa nơi thanh tịnh, trao dồi đạo quả.

Ngài ở vùng Thất Sơn ít lâu thì xin thầy xuống núi qua đất Hà Tiên định lần ra Phú Quốc, rồi sau đó sẽ tìm sang các nước học đạo truyền giáo. Nhưng khi vừa đến nơi thì đã trễ tàu. Ngài ở lại ra đầu gành bãi biển Mũi Nai ngồi tham thiền bảy ngày bảy đêm quán xét nhơn duyên. Trước cảnh thiên nhiên trời nước bao la, những chiếc thuyền nhấp nhô, bọt nước tụ tán vào một buổi chiều Ngài ngộ nhập Phật pháp chứng đạt lý vô thường, vô ngã, cảnh khổ trầm luân, đầy vơi, có không, còn mất, sống chết, khổ vui của cuộc đời. Chính nơi đây Ngài tỏ sáng lý pháp “Thuyền bát nhã” ngược dòng đời cứu độ chúng sanh. Năm đó Đức Ngài tròn 22 tuổi:

Mãn khai vô thượng liên đài,

Trang nghiêm thị hiện Như Lai tọa thiền.

Sau đó ngài trờ về làng Phú Mỹ, tỉnh Mỹ Tho Thành lập GIÁO HỘI TĂNG GIÀ KHẤT SĨ VIỆT NAM, NỐI TRUYỀN THÍCH CA CHÁNH PHÁP.

 

THUYẾT PHÁP VÀ TRUYỀN ĐẠO

 

Để đánh dấu bước đường hoằng dương Phật pháp, thời pháp đầu tiên được Ngài khai đàn giang giải là “Thuyền bát nhã” vào ngày Rằm tháng tư tại Linh Bửu Tự, làng Phú Mỹ, tỉnh Mỹ Tho. Từ đó, gót chân hành đạo của Đức Tôn Sư Minh Đăng Quang, vị Sư trưởng của Đạo Phật Khất sĩ Việt Nam bước rộng lần ra từ phạm vi làng này sang làng khác, từ tỉnh này sang tỉnh khác. Từ đó người dân hiền cảm mến hình ảnh một thầy tu, một nhà sư thân đắp mảnh y vàng, tay ôm bình bát gáo dừa, đi khất thực vào mỗi buổi sáng, không nhà cửa, không gia đình quyến thuộc, không cất giữ chứa chấp món chi, không ở một nơi nào nhất định, không tiền bạc, v.v… Ngài phát nguyện “Nối truyền Thích Ca Chánh Pháp”, noi gương Phật tăng xưa sống đời phạm hạnh giải thoát:

“Nhất bát thiên gia phạn

Cô thân vạn lý du

Dục cùng sanh tử lộ

Khất hóa độ xuân thu”

Trong những buổi thuyết pháp, Ngài luôn luôn kêu gọi tăng đồ trở về với giới luật “NÊN TẬP SỐNG CHUNG TU HỌC”. Ngài kêu gọi nhân loại hãy thương yêu nhau “không tự lấy để trừ tham, không tự làm để tránh ác”. Và Ngài cũng khuyến khích mọi người hãy cùng chung xây dựng một cõi đời đạo đức, một xứ thiên đường, một cuộc sống an vui hạnh phúc cho nhân loại ngay tại trần gian này bằng cách:

Mỗi người phải biết chữ

Mỗi người phải thuộc giới

Mỗi người phải tránh ác

Mỗi người phải (học đạo) làm thiện.

Những thời pháp của Ngài thuyết còn ghi lại trong bộ Chơn Lý (gồm sáu mươi chín tiểu luận). Ngài đã khéo léo dung hợp tư tưởng giáo lý của hai tông phái Phật giáo đưa ra con đường trung đạo, chánh đẳng chánh giác… giúp cho mọi tầng lớp trong xã hội nhận được chân giá trị của đạo Phật.

Ngài chủ trương và thường khuyến hóa chư đệ tử với quan niệm “Ta là tất cả, tất cả là ta, ta sống cho tất cả thì tất cả sống cho ta, tiếng ta đây là tất cả”, đó tức là chơn lý vũ trụ. Người thật hành đúng chơn lý gọi là Khất sĩ. Khất ấy là xin. đây là học. Xin ấy rồi lại cho, học đây rồi lại dạy. Xin phẩm thực để nuôi dưỡng thân giả tạm, cho sự thiện lành phước đức để bảo giữ sự sống dài lâu. Học bằng cách lượm lặt phương pháp khắp nơi, rút nhiều kinh nghiệm. Dạy là đem kết quả thực hành đặc điểm chỉ lại cho người. Cái xin, cái học, cái cho, các pháp nương sanh, mở ra con đường sáng lạn cho tất cả kẻ về sau tiến bước. Con đường ấy kêu là Đạo. Đạo của Sống là xin nhau sống chung, Đạo của Biết là học chung. Đạo của Linh là tu chung.

Chư Tăng, Ni xuất gia theo Ngài học đạo thời bấy giờ có trên trăm vị, còn Phật tử theo quy y thọ giới tại gia cũng hơn vả vạn người. Tịnh xá được thành lập hơn 20 ngôi tại các tỉnh miền Đông và đồng bằng sông Cửu Long. Ngài hành đạo thuyết pháp độ sanh được khoảng 10 năm thì thọ nạn và vắng bóng.

Trong hàng đệ tử của Đức Tôn Sư có các vị Trưởng Lão, Thượng Tọa kế tục đạo nghiệp, lập các giáo đoàn du tăng đi hành đạo khắp hai miền Nam – Trung (1955 – 1975) như quý ngài: Giác Tánh, Giác Chánh, Giác Như, Giác Tịnh, Giác An, Giác Nhiên, Giác Lý, Giác Đức v.v…

Bên Ni giới Khất sĩ thì có Ni trưởng, Ni sư như: Huỳnh Liên, Bạch Liên, Thanh Liên, Kim Liên, Ngân Liên, Chơn Liên, Quang Liên, Tạng Liên, Trí Liên, Tràng Liên v.v…

Kể từ ngày Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập tháng 11 năm 1981, hệ phái Khất sĩ là một trong chín (09) tổ chức thành viên thành lập Giáo hội. Do vậy, đại diện hàng giáo phẩm Hệ phái được đề cử trực tiếp tham gia trong hàng Giáo phẩm Hội Đồng Chứng Minh Trung Ương có: Hòa Thượng THÍCH GIÁC NHU, Phó Chủ Tịch Hội đồng Trị sự nhiệm kỳ I (1981 - 1987); Phó Pháp Chủ Hội Đồng Chứng Minh nhiệm kỳ II và III (1987 - 1997) viên tịch năm 1997; Hòa Thượng THÍCH TỪ HUỆ, thành viên Hội Đồng Chứng minh, viên tịch 1997, nhiệm kỳ V (2002 - 2007) có nhị vị Hòa Thượng: THÍCH GIÁC TRANG, Hòa Thượng THÍCH GIAC NHƯỜNG, và trong Hội Đồng Trị Sự có Hòa Thượng THÍCH GIÁC PHÚC, Phó ban Tăng sự Trung Ương nhiệm kỳ IV và V, Thượng Tọa THÍCH GIÁC DŨNG, Ủy viên Hội Đồng Trị Sự nhiệm kỳ IV, V; Thượng tọa THÍCH GIÁC GIỚI, Ủy viên HDTS nhiệm kỳ V (2002 - 2007); Ni trưởng Thích Nữ NGOẠT LIÊN, Ủy viên Ban thường trực HDTS nhiệm kỳ II, III, IV và V; Ni trưởng Thích Nữ TẠNG LIÊN, Ủy viên HĐTS nhiệm kỳ IV (1997 - 2002) và Ni trưởng Thích Nữ TRÀNG LIÊN, Ủy viên HĐTS nhiệm kỳ V (2002 - 2007).

Ngoài ra, hiện nay còn có nhiều vị Giáo phẩm Tăng ni Hệ phái tham gia Ban Trị Sự các Tỉnh, Thành hội Phật giáo và Ban đại diện các Quận, Huyện, Phường, Xã… cơ sở của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

 

THỜI KỲ THỌ NẠN VÀ VẮNG BÓNG

Chiều ngày 30 tháng Giêng năm Giáp Ngọ (1954) khi ánh mặt trời vừa lắng dịu, tại Tịnh xá Ngọc Quang, Sa Đéc, Đức Ngài chậm rãi qua lại bên tàng cây bã đậu với dáng vẻ suy tư… cho đến khi mặt trời vừa lặn. Ngài gọi chư Tăng đệ tử lấy đệm trải dưới gốc cây Bồ Đề, ân cần dạy bảo về sự tu học và sự mở mang mối đạo. Đức Ngài cũng cho biết thêm tương lai đạo Phật tại Việt Nam và các nước. Ngài từ giã chư đệ tử để tu tịnh tại núi “Lửa” một thời gian. Chư Tăng đệ tử xin theo, Ngài không cho mà còn dặn rằng: “Các con hãy ở lại mở mang mối đạo, giáo hóa chúng sanh đền ơn Chư Phật, ấy là các con theo thầy và làm vui lòng thầy nơi xa vắng, rồi một ngày kia thầy sẽ trở về”.

Sáng ngày hôm sau mùng 1 tháng 2, Đức Ngài rời tịnh xá Ngọc Quang đi với một vị Sư già và một chú điệu qua Tịnh xá Ngọc Viên, Vĩnh Long rồi đi tiếp qua Cần Thơ. Nhưng khi đến Cái Vồn (Bình Minh) thì bị một số người ngoại đạo bắt đi biệt tích. Bấy giờ chư đệ tử mới biết rõ ra lời nói của Ngài đi tu tịnh núi “Lửa” đó là lời cảm nhận mầu nhiệm của Tổ sư. Rồi từ ấy đến nay bóng Ngài bặt vô âm tín. Mấy chục năm dài trôi qua. Mấy chục mùa xuân biền biệt. Mấy chục mai vàng rơi rụng chia xẻ nỗi niềm của hàng vạn vạn con tim hiếu kính thương nhớ Thầy Tổ:

Mỗi năm mỗi thắp hương lòng

Cầu Sư Tổ giải thoát vòng tai ương

Trở về bên mái Phật đường

Chuyển pháp luân độ mười phương an lành

Trái oan là nghiệp chúng sanh

Nạn tai là chuyện phải đành mà thôi

Đành rồi, hóa giải tức thời

Khổ đau sẽ hết, nụ cười thêm xinh

Minh Đăng Quang bóng an bình,

Minh Đăng Quang ngọn đèn linh ta bà.

Hằng năm, hàng môn đồ tứ chúng đệ tử luôn cầu nguyện và tin tưởng:

Đành rồi, hóa giải tức thời

Khổ đau sẽ hết, nụ cười thêm xx

Minh Đăng Quang bóng an bình,

Minh Đăng Quang ngọn đèn linh ta bà.

Bởi từ lâu chúng ta đã thấu hiểu lời dạy quý báu và sâu xa của Đức Thế Tôn: “Dù người ta có giết thầy mình, mình cũng không nên hại lại”. Và lời dạy thấm thía vi diệu nhất đối với chúng ta hôm nay vẫn là “kẻ nào cột oan trái rằng – họ đã giết ta, đã đánh ta, đã thắng ta, đã cướp của ta, oan trái của người ấy không bao giờ dứt. Người nào không cột oan trái như thế, thì oan trái của người ấy sẽ dứt. Và từ cổ chí kim, oan trái không bao giờ dứt được bởi sự cột oan trái. Oan trái chỉ dứt được bởi sự không cột oan trái”.

Hiểu được giáo lý một cách vững chắc như vậy, chúng ta sẽ nghe mình rất hạnh phúc khi được trả nghiệp. Huống hồ chúng ta còn giác ngộ hơn khi Tổ sư chúng ta xem đây là từng mức thử thách cần phải trả, cần phải vượt qua để làm nên đạo bồ đề:

“Quỳnh trong nước mắt, sen trong lửa

Phút nhập thần sương bạc khói lam

Chia sẻ khói sương về tới đích

Cả hai cùng hiện một hoa đàm”.

Dấn thân vào cõi tử sinh, hòa điệu để được trả nghiệp mà cũng là phương pháp chuyển hóa nghiệp, nhân đối diện hầu tạo hạnh phúc an vui cho khắp vạn loài. Đây là tinh thần xả hỷ lợi tha của chư Bồ Tát, là tinh thần từ bi bất diệt của Đức Phật và giáo pháp Khất sĩ Việt Nam.

Biết và nghĩ được như vậy, nên từ ngày Đức Tôn Sư Minh Đăng Quang vắng bóng đến nay đã trải qua năm chục năm dài rồi mà chư đệ tử Tăng Ni và nam nữ Phật tử vẫn cùng nhau nối tiếp, một lòng mến đạo, kính thương Tổ Thầy, y lời chỉ giáo, gắng công duy trì đường lối giáo lý Y Bát Khất sĩ với sứ mạng thiêng liêng cao cả của Tổ Thầy để mở mang Phật pháp hầu có dìu dắt bá tánh nhân sanh, đền đáp ơn Phật và Tổ Thầy trong muôn một.

 

KẾT LUẬN

Kính bạch chư tôn đức,

Kính thưa chư vị,

Nhờ tinh thần truyền thừa bất diệt và tinh tấn dõng mãnh của Tổ sư mà hiện thời khắp hai miền Nam – Trung, cao nguyên và đồng bằng đất Việt đều có Tịnh Xá Đạo Tràng  xương minh chánh pháp. Chư Tăng Ni và Phật tử ngày thêm tăng trưởng. Tuy nhiên, chúng ta cũng biết là không có một con đường hay pháp môn nào đưa đến thành tựu và hưng thịnh mà không trải qua những thử thách gạn lọc. Bởi trong thực tế của từng giai đoạn ngay trong thời điểm, thế hệ chúng ta đang tu học – một số chư Tăng ni Phật tử huynh đệ chúng ta đã phần nào biểu hiện sự sa sút đời sống phạm hạnh, thối chuyển, chán nán, có những trường hợp từ bỏ cuộc sống tu hành. Dù vậy, nếu chúng ta can đảm nhìn thẳng vào sự thật, quán xét sự tương phản, biến hiện sanh diệt của các pháp trong mỗi lúc, chuyển hóa nó trở thành bài học kinh nghiệm, một phương thuốc diệu dụng giúp chúng ta cảnh giác, nhiếp phục mọi trở ngại để tiến đến đạo quả giải thoát an vui đúng như chư Phật, chư Tổ hằng chỉ giáo khai thị “phiền não tức bồ đề”.

Chư tôn Trưởng Lão, Thượng Tọa, Đại Đức Tăng Ni và hàng Phật tử chúng ta đã từng chịu đắng, nuốt cay vượt qua biết bao cam go, khó khăn thử thách của trong đời mới giữ được thành quả cao quý trang nghiêm như ngày hôm nay, Và rồi điều này lại càng nhắc nhở chúng ta hơn trên con đường dẫn đến tương lai cũng khó khăn như con đường quá khứ:

“Kẻ đến chân non, kẻ mệt đờ

Kẻ còn xa lắc, kẻ xa lơ

Kẻ đang muốn “bán đồ nhi phế”

Kẻ đã lưng cao tự thuở giờ”

Vì thế chúng ta cần phải sáng suốt nhận định chắc chắn rằng: “Có người đang lên đường, có người đang chán nản, có người rồi sẽ chán nản. Nhưng niềm tin sắt đá ở chúng ta thì đừng có di dịch”, bởi cũng có “người đã lưng cao tự thuở giờ”. Hào quang của chư Phật, chư Tổ mãi mãi muôn đời vẫn huy hoàng sáng rực soi nẻo thánh thiện dẫn lối chúng ta đi.

Dù trải qua năm mươi năm dài biền biệt Đức Ngài đã xa vắng, nhưng tấm lòng của người đệ tử hiếu đạo trung kiên không khi nào xa vắng. Và nguyện ghi vào tâm khảm đời đời tấm gương BI – TRÍ – DŨNG của Tôn Sư để làm rạng rỡ tông môn truyền thống.

Và một điều là dù mai kia, mốt nọ, đường trần muôn lối, mỗi người chúng ta tu tập hành đạo một nơi, nhưng mong rằng chư huynh đệ Tăng Ni, Phật tử, hàng môn đồ đệ tử của Đức Tôn Sư luôn luôn khắc dạ ghi lòng:

“Từ ngàn trước bao người dong ruổi

Nay chốn này đến buổi chúng ta

Con giòng hưởng lấy tài gia

Đoái nhìn sự nghiệp thương cha công trình.

Càng rộng lớn kinh dinh đồ sộ

Là người xưa lao khổ lại càng

Tìm ra được Ánh Đạo Vàng

Nhọc nhằn một kẻ, vẻ vang muôn người

Ôi thật đáng cho đời kính ngưỡng

Công đức Ngài vô lượng vô biên

Hỡi chư Phật tử hữu duyên

Nhớ ơn Thầy Tổ cần chuyên tu hành”.

                                                              Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

                             Kính lạy Đức Tôn Sư Minh Đăng Quang thùy từ chứng giám

                                                                          Đạo tràng Tịnh xá Trung Tâm,

                                                         Mùa Tưởng Niệm Phật Lịch 2547 – 2004

                                                                   Môn đồ đệ tử thành kính tưởng niệm

 

Anh Minh Quang

Các tin đã đăng:
Số lượt truy cập
vistor counter